Con người đã Đến - 인자가 왔나니
글쓴이 : 방문자221.168.180.*** 날짜 : 2005-06-10 12:29:48 조회수 : 124
Đuốc Thiêng số 68, Tháng 12 Năm 2003에서 따온 글입니다.
Con người đã Đến
"Bởi Con người đã Đến tìm và cứu kẻ bị mất" (Luca 19:10).
Suốt hàng bao thế kỷ qua, năm nào nhân loại cũng rộn rịp đón mừng Lễ Giáng Sinh với đèn màu, với cây Noel, với thiệp chúc mừng, với quà biếu, với các bữa tiệc linh đình, nhưng vẫn còn rất nhiều người chưa biết ý nghĩa đích thực của ngày lễ là gì, thậm chí có một số người chưa hề biết mừng lễ giáng sinh của ai. Nhiều trẻ em bị người lớn đầu độc, trông cho mau tới ngày lễ giáng sinh để có dịp chờ ông già Noel chui qua ống khói lò sưởi mang quà tới cho chúng. Và riết rồi hễ lễ Noel tới, trẻ em chỉ biết có ông già Noel và chờ ông già ấy mang quà tới cho mình.
Mấy năm trước đây, bên nước Anh có một vị Mục sư trong một bài giảng nói rằng, ông già Noel chỉ là huyền thoại, một chuyện bịa đặt hoang đường, thế mà một số trẻ em và có cả các bà mẹ bật khóc, không tiếc lời lên án cho rằng vị Mục sư ấy nói sai làm mất niềm vui và lòng tin con trẻ. Những người đàn bà đó cho tới giờ phút nầy vẫn còn đón mừng lễ Giáng Sinh trong sự chờ đợi ông già Noel như thế. Thật là một điều không tưởng.
Noel không phải là lễ đón mừng Ông Già Noel, nhưng là ngày lễ kỷ niệm Một Người Đã Đến.
Người đó là ai? Người đó đến trần gian ra sao? Người đó đến để tìm ai? Người đó đi tìm bằng cách nào? Đây là những câu hỏi rất quan trọng cho những ai đi tìm ý nghĩa đích thực của ngày Lễ Giáng Sinh.
I. Con Người Đã Đến là ai?
Lời Chúa chép rằng: "Bởi Con Người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất" (Luca 19:10). Vậy, Con Người Đã Đến mà câu Kinh thánh nầy nói đến là ai?
A. Đấng Thần Nhân
Con Người đã đến trong thế giới loài người cách nay 2003 năm mà mỗi năm nhân loại tưng bừng kỷ niệm sự giáng sinh của Ngài, Con Người ấy chính là Đức Chúa Jêsus. Ngài là Đức Chúa Trời Toàn Năng, Toàn Tri, Toàn Tại, Toàn Ái, đời đời không hề thay đổi, yêu thương, thánh khiết, Ngài là Đấng Tạo Hóa vô hình, vô tượng, mắt trần không thể thấy được. Ngài được Kinh thánh mô tả là: "Đấng Lạ Lùng, Đấng Mưu Luận, là Đức Chúa Trời Quyền Năng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An" (Êsai 9:5). Chính Đấng vô hình ấy đã hóa thân làm người, trở thành con người có thịt và xương cho nhân loại nhìn thấy, nên được gọi là Con Người. Ngài vừa là Đức Chúa Trời, vừa là Con Người, trong Ngài có hai bản tánh Trời, Người vì vậy được gọi là Đấng Thần Nhân.
B. Đấng Cứu Thế của nhân loại
Vì Đức Chúa Jêsus mang hai bản thể Trời, Người, do đó Ngài trở thành Đấng Cứu Thế của nhân loại. Luật pháp của Đức Chúa Trời qui định rằng: "Tiền công của tội lỗi là sự chết" (Rô 6:23), thế mà "Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời" (Rô 3:23) đến nỗi Kinh thánh phải than: "Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không" (Rô 3:10). Loài người ngập chìm trong vủng lầy tội lỗi, ai nấy đều bất lực không thể giải thoát mình khỏi xích xiềng tội lỗi ấy, chỉ vì loài người là Người. Ngay cả các giáo chủ, các nhà đạo đức, những thánh nhân xưa nay chỉ duy nhất có bản tánh Người, không ai trong số ấy có bản tánh Trời khả dĩ có quyền năng siêu việt tiêu trừ tội lỗi hay cứu vớt loài người ra khỏi bể tội oan khiên đau khổ được. Duy chỉ có Đức Chúa Jêsus vừa là Trời, vừa là Người mới có đủ năng quyền cô lập và tách rời tội lỗi ra khỏi loài người.
Trên tờ báo về khoa học các nhà nghiên cứu cho biết, trong xà phòng mà chúng ta dùng hằng ngày để tắm rửa và giặt giũ có hai đặc tính hiếu nước (hydro philic) và kỵ nước (hydro phobic), nhờ hai đặc tính nầy mà xà phòng làm sạch được những dơ bẩn bám vào cơ thể con người và quần áo. Khi được trộn vào nước, nhờ có đặc tính hiếu nước, xà phòng có thể chen lấn vào trong giữa các phân tử để tạo nên một dung dịch xà phòng (soap solution). Một khi đã hoà lẫn vào trong nước rồi, đặc tính kỵ nước bắt đầu làm việc. Với tính kỵ nước, xà phòng bám sát vào những phân tử khác trong nước, như bụi, đất, dầu, nhớt, v.v... làm cho các chất dơ ấy bị cô lập, tách rời ra khỏi đồ đạc hay da thịt, rồi được nước cuốn đi. Thế là người và đồ đạc được sạch. Tuy nhiên khả năng tẩy sạch của xà phòng có giới hạn. Xà phòng thường có khả năng tẩy sạch bụi bặm, đất, dầu, nhớt, nhưng nếu áo quần có dính chất protéin như mực, đồ ăn hay máu thì xà phòng thường không thể tẩy sạch hết được. Do đó người ta chế ra một loại xà phòng đặc biệt có chất enzymes để nhờ chất nầy phá vỡ chất protéin, mới có thể tẩy sạch hết được.
Bụi, đất, dầu, nhớt, chất bẩn của thế giới vật chất, chúng ta gọi là đồ dơ, thế nhưng trong linh giới, những chất bẩn làm hư hoại, dơ bẩn lòng người, Kinh thánh gọi là tội lỗi. Giống như đồ dơ cần xà phòng có hai tính chất hiếu nước và kỵ nước làm cho sạch, thì tội lỗi cần có một Đấng Cứu Thế có cả hai bản tánh Trời và Người mới cứu vớt loài người vốn bị tội lỗi làm hư hoại được. Nhờ bản tánh Người, Đức Chúa Jêsus sống giữa thế gian tội lỗi, và nhờ bản tánh Trời, Đức Chúa Jêsus cô lập tội lỗi và tống đuổi tội lỗi ra khỏi lòng người. Trên đời tất cả mọi người chỉ là Người, không ai đồng một lúc vừa có bản tánh Trời vừa có bản tánh Người cả. Chỉ Đức Chúa Jêsus có hai bản tánh đó. Ngài là Đấng Cứu Thế đến thế gian "cứu vớt kẻ có tội" (I Ti 1:15). Thánh kinh chép: "Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội" (Math 1:21).
II. Con Người Đã Đến như thế nào?
Ngay từ khi tổ phụ của loài người là Ađam và Êva phạm tội, đem tội lỗi vào trong thế gian, làm ô nhiễm lòng người, thì Đức Chúa Trời đã có kế hoạch giải cứu loài người ra khỏi tội lỗi và hậu quả của nó rồi. Đức Chúa Trời loan báo cho biết, từ trong dòng dõi người nữ sẽ có một Đấng Thần Nhân ra đời, có đủ năng quyền chiến thắng Satan, tẩy trừ tội lỗi. Lời hứa ấy kéo dài từ buổi sáng thế, chạy suốt theo giòng lịch sử nhân loại 4000 năm. Nhiều lần Đức Chúa Trời dùng các đấng tiên tri nhắc đi nhắc lại lời hứa ấy. Rồi "khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài, bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp, để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp" (Gal 4:4-5).
Thế rồi một đêm kia, cách nay ngót hơn 2000 năm, giữa lúc mọi người tại Do thái đang bình lặng trong giắc ngủ, thì một hài nhi sinh ra nơi máng cỏ chuồng chiên tại cô thôn Bếtlêhem. Ngay lúc ấy, cả khung trời Do thái sáng rực hào quang, từng đoàn thiên binh với thiên sứ bay rợp không gian ca ngợi Thiên Chúa và chúc mừng thế nhân: "Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, bình an dưới đất, ân trạch cho loài người" (Luca 2:14). Lúc ấy, ngoài cánh đồng Bếtlêhem, bọn mục đồng thức đêm canh giữ bầy chiên, cũng được thiên sứ loan báo tin vui: "Nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân. Ấy là hôm nay tại thành Đavít, đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa. Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngưoi sẽ gặp một Con Trẻ bọc bằng khăn nằm trong máng cỏ" (Luca 2:10-12). Bọn mục đồng vội vả vào thành Bếtlêhem tìm thờ Đấng Cứu Thế vừa giáng sinh.
Cũng chính đêm ấy, các nhà thông thái từ bên Đông phương thấy có vì sao lạ xuất hiện, đoán biết có Chân vương Cứu thế ra đời cứu vớt sinh linh, liền khăn gói ra đi mang lễ vật theo sao dẫn đường đến Bếtlêhem tôn thờ Cứu Chúa Hài đồng và dâng lên Ngài lễ vật gồm vàng, nhũ hương và mộc dược (Ma 2:1-12).
III. Con Người Đã Đến để tìm ai?
Từ đó đến nay trải qua hơn 2000 năm, câu mà nhiều người vẫn hỏi là: Con Người Đã Đến Để làm gì hay Tìm ai? Đức Chúa Jêsus biết trước loài người muốn biết như thế nên đã phán: "Bởi Con Người Đã Đến tìm và cứu kẻ bị mất" (Luca 19:10).
Mục đích Chúa Cứu Thế vào đời là đi tìm cứu những kẻ bị mất, tức là đi tìm cứu những kẻ lìa xa nhà Chúa, không biết Đấng Tạo Hóa mình là ai. Họ giống "như chiên đi lạc, ai theo đường nấy" không biết ai là người chăn và đâu là chuồng chiên êm ấm nghỉ ngơi (Êsai 53:6). Họ giống như người lạc loài vô định không biết cha mình là ai, bị tội lỗi làm hư hoại cuộc đời, bị ma quỉ dẫn dụ vào con đường lầm lạc, đi đến chốn hư mất diệt vong mà không biết. Họ là những người chối bỏ Đấng Tạo Hóa sinh thành, Đấng nuôi dưỡng và cứu rỗi mình mà đi thờ lạy loài người hay thờ những vật thọ tạo, tà thần, hoặc đi theo quỉ ma đang lạc mất lối về nhà Cha thiên thượng. Họ có thể là những nhà khoa học chối bỏ quyền Tạo Hóa hoặc những nhà trí thức tôn xưng mình là Thượng Đế cho mình, không chịu hạ mình ăn năn tội lỗi quay về với Đấng Sáng Tạo Toàn Năng. Họ là những kẻ lạc mất giữa biển trần tội lỗi, bơ vơ vô định, xa cách Đức Chúa Trời cần được bàn tay của Đấng Cao Cả nắm kéo lên thuyền cứu rỗi. Tóm lại, tất cả những ai sinh ra trong giòng giống Ađam đều là những người bị mất vì bị đặt dưới án phạt tội lỗi, nếu người đó không ăn năn tội quay về với Cha Tạo Hóa yêu thương.
Chúa Cứu Thế giáng sinh xuống trần là để tìm và đem sự cứu rỗi đến cho những người ấy. Ngài cảnh cáo: "Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình thi có ích gì? Vậy người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại" (Ma 16:26). Khi đến trần gian, Đấng Cứu Thế đi khắp đó đây tìm kiếm người lạc mất, Ngài tha thiết kêu gọi: "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ" (Math 11:28).
Vị hoàng tử nước Anh một lần nọ vào khám đường thăm hỏi tù nhân để biết sự tình. Thật là cơ hội ngàn năm một thuở để các tù nhân giải bày tâm sự cầu mong sự thương xót của hoàng tử.
Người thì kể đời sống thánh thiện của mình trong bao năm qua, và chỉ vì một phút lỗi lầm mà mang thân tù tội, quả là bất công. Người thì kêu mình bị hàm oan, kẻ thì nói quan tòa thiếu sáng suốt. Ai ai cũng có lý do để chứng minh nơi nầy không phải là chỗ hình phạt dành cho mình. Trong khi đó, chỉ có một người ngồi yên lặng. Hoàng tử bước tới hỏi:
-Còn ngươi, không có gì kêu cầu ta sao? Thấy đây là một kẻ thành tâm, vị hoàng tử bèn bảo kẻ cận vệ:
-Hãy đem kẻ tội ác nầy ra khỏi đám người thánh thiện kia!
Và hoàng tử tuyên bố ban ân huệ tha bổng cho người tù có lòng thành tâm đó.
Chúa Cứu Thế đi tìm kẻ bị mất cũng tương tự như vậy. Ngài giáng sinh xuống trần gian nhằm mục đích đi tìm những ai hạ mình cảm biết sự bất lực, bất toàn, biết mình là người có tội, sẵn sàng ăn năn sám hối quay về với Chúa. "Bởi Con Người Đã Đến tìm và cứu kẻ bị mất" là như thế.
IV. Con Người Đã Đến tìm và cứu kẻ bị mất bằng cách nào?
Đức Chúa Jêsus, Đấng mệnh danh "Con Người Đã đến" tìm và cứu những kẻ bị mất bằng hai phương cách sau đây:
A. Rao giảng Tin Lành
Khi đến trần gian, Đức Chúa Jêsus tìm và cứu kẻ bị mất bằng cách chu du khắp xứ Palestine rao giảng Tin Lành đem sự cứu rỗi từ trời đến cho mọi người. Mỗi lần nhìn thấy đoàn dân đông, Ngài đều "động lòng thương xót vì họ như chiên không có người chăn". Vì vậy, đi tới đâu, ở nơi nào, bất cứ lúc nào, Ngài cũng giảng Tin Lành, với sứ điệp ngắn ngủi nhưng đầy quyền năng thuyết phục: "Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần, các ngươi hãy ăn năn và tin Tin Lành" (Mác 1:15). Ngài rao giảng với cả sự đảm bảo: "Kẻ đến cùng ta, ta không bỏ ra ngoài đâu" (Giăng Ứ6:37). Do sự rao giảng Tin Lành, Ngài đã tìm được nhiều người vốn đã bị mất trở về với sự cứu rỗi. Họ tin và theo Ngài. Có người trở thành môn đồ Ngài, có người trở thành kẻ phục vụ Ngài. Họ vui mừng vì đã tìm được "đường đi, chân lý và sự sống" (Giăng 14:6).
B. Chịu chết gánh tội loài người
Tuyệt điểm của con đường tìm và cứu kẻ bị mất của Chúa Cứu Thế Jêsus khi đến trần gian chính là giờ phút Ngài bằng lòng hy sinh mạng báu chết thay tội lỗi loài người. Bản tánh của Đức Chúa Trời là công chính và yêu thương. Luật công chính đòi hỏi Ngài phải hình phạt tội lỗi, song bản tính yêu thương đòi hỏi Ngài phải tha thứ. Thế nhưng cả nhân loại đều đã phạm tội do Ađam truyền thụ và do chính mình tạo nên, mỗi ngày cứ lún sâu vào con đường ác dục, khiến Đức Chúa Trời phải đối diện với nan đề cần giải quyết. Nếu chiếu luật công chính hình phạt tội nhân thì Ngài trở thành Đức Chúa Trời không có tình thương, trái lại, nếu vì tình thương mà không thi hành án phạt thì Ngài đã làm mất đi bản tính công chính của Ngài. Trước đức công chính và đức yêu thương có thể bị xúc phạm vì lẽ nầy hay lẽ khác như thế, Đức Chúa Trời buộc phải có giải pháp hài hòa, làm cho đức công chính và đức yêu thương không còn đối đầu với nan đề, bằng cách chính Đức Chúa Trời Toàn Năng vô hình vô tượng xuống thế làm người, trong hình hài bằng xương bằng thịt chịu chết gánh tội thay cho nhân loại. Đáng lẽ loài người phải chết vì tội lỗi của mình, bây giờ Chúa Cứu Thế chết thay cho loài người, hầu cho luật công chính và luật yêu thương của Đức Chúa Trời được chan hòa thỏa đáng.
Đức Chúa Jêsus trở thành Con Người Đã Đến trong vai trò quan trọng như thế để tìm và cứu kẻ bị mất. Ngài giáng sinh làm người. Sau khi giảng đạo, làm nhiều phép lạ tỏ mình là Đức Chúa Trời quyền năng, Đức Chúa Jêsus bị người đương thời với Ngài ghen ghét, bắt đóng đinh trên thập tự giá. Trước mặt Đức Chúa Trời, cái chết của Ngài không phải là tội hình, vì Ngài là Đấng vô tội chết thay kẻ có tội. Cái chết đó là cái chết thay thế. Thay thế cho cả nhân loại. Do vậy mà trước khi trút linh hồn, Đức Chúa Jêsus phán: "Mọi việc đã được trọn", nghĩa là qua cái chết Ngài chịu, sự cứu rỗi nhân loại được hoàn tất viên mãn.
Ngày nay, muốn thoát khỏi án phạt đời đời do chính tội lỗi mình gây ra, chúng ta không cần phải làm gì cả, vì Đức Chúa Jêsus đã làm xong cho chúng ta khi Ngài vì chúng ta chịu chết trên thập tự giá rồi, chỉ phải hết lòng thành ăn năn tội lỗi, tiếp nhận sự hy sinh của Chúa cho mình, tức khắc huyết Đức Chúa Jêsus đổ ra trên thập tự giá làm sạch hết mọi tội chúng ta (I Giăng 1:7). Đức Chúa Jêsus, Con Người Đã đến, làm xong sự cứu chuộc cho kẻ bị hư mất cách nay hơn 2000 năm, thế mà có hàng tỉ người đến nay cũng chưa biết mình được xá tội nhờ sự chết chuộc tội của Chúa Cứu Thế Jêsus và sự sống lại từ cõichết của Ngài.
Cách đây nửa thế kỷ, ông David Miles ở tiểu bang Idaho, bị truy tố về tội ngộ sát. Mặc dù ông quả quyết mình vô tội, nhưng vẫn bị tòa kết án khổ sai.
Sau khi ở tù được 9 tháng, ông được tòa khoan hồng cho được tạm tha về nhà, nhưng bản án tù vẫn còn nguyên không thay đổi, ông vẫn là người có án tù.
Tới năm 1979, lúc đó 74 tuổi, ông David Miles mới biết được rằng, sau khi được tạm tha, thống đốc tiểu bang Idaho đã ký sắc lệnh ân xá cho ông, nhưng không biết vì lý do gì lệnh ân xá ấy không đến tay ông. Và suốt 40 năm ông vẫn mang án chung thân như thế. Đời ông có tiền án, và đang thụ lý án lúc tạm tha có điều kiện, ông không làm ăn gì được, bản án vẫn đè nặng trên cuộc đời ông.
Nhưng đến tháng 3 năm 1979, tức là sau 40 năm, khi kiểm điểm các hồ sơ trong thư khố của tiểu bang, người ta tình cờ gặp sắc lệnh ân xá do thống đốc tiểu bang ký vào ngày 14-4-1939, mới hay rằng ông David Miles đã được ân xá rồi, mà 40 năm qua ông không hề hay biết. Cũng may cho ông, là được tạm tha, chứ không thì phải nằm rục xương trong khám đường.
Được ân xá 40 năm rồi mà không biết. Đó là chuyện lạ. Nhưng lạ hơn nữa, Đức Chúa Jêsus, Con Người Đã Đến trần gian, chịu chết thay tội cho loài người. Qua sự chết đó, Đức Chúa Trời đã ân xá cho toàn thể nhân loại,mà đến nay đã hơn 2000 năm qua mà vẫn còn có người chưa được biết. Họ vẫn miệt mài trong đời sống khổ đau vô vọng nơi ngục tù tội lỗi trong khi Chúa Cứu Thế đã làm xong ân xá cho họ rồi mà không chịu đến nhận lãnh.
Người không biết mình được ân xá bất hạnh bao nhiêu, thì trái lại, người không chịu nhận ân xá trở thành thảm họa không lường bấy nhiêu.
Khoảng năm 1829-1830, George Wilson ở Pensylvania, bị pháp đình Hoa kỳ ở Philadelphia kết án tử hình treo cổ về tội cướp xe thơ và sát nhân. Với tư cách là Tổng thống Hoa kỳ, Andrew Jackson ban lệnh ân xá cho ông ta, nhưng Wilson khước từ không nhận sự ân xá đó, và đã nhấn mạnh rằng, nếu anh ta không nhận, thì đó không thể là ân xá được. Tổng thống phải kêu gọi Tối Cao Pháp Đình giải quyết vấn đề cấp tốc, vì viên cảnh sát trưởng cần biết phải treo cổ Wilson hay không.
Viên chánh án John Marshall, là một trong số những luật gia tài giỏi đã đưa ra quyết nghị sau đây:
-Lệnh ân xá là một mảnh giấy. Giá trị của nó tùy sự tiếp nhận của cá nhân trong cuộc. Người ta khó tưởng tượng được rằng một kẻ bị kết án tử hình lại cố ý khước từ lệnh ân xá, nhưng nếu đương sự khước từ, thì không có sự ân xá nữa. Anh ta phải bị treo cổ.
Thế là George Wilson bị cảnh sát đem ra treo cổ chết.
Đức Chúa Jêsus, Con Người Đã Đến tìm và cứu kẻ bị mất. Ngài đã chết thay tội lỗi cho loài người. Ngài chính là giấy ân xá của Đức Chúa Trời cho loài người. Ai tiếp nhận Ngài thì tội lỗi được tha thứ, Đức Chúa Trời ân xá thoát khỏi sự hình phạt đời đời trong hỏa ngục. Trái lại, nếu ai không chịu tiếp nhận Đức Chúa Jêsus, có nghĩa là người ấy từ chối giấy ân xá của Đức Chúa Trời. Tội lỗi vẫn còn đó, bản án vẫn thi hành. Kinh thánh chép rằng: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời" (Giăng 3:16), người ấy "không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà vào sự sống" (Giăng 5:24).
Từ lâu, có lẽ một số người giống như David Miles, không biết tội lỗi mình đã được Đức Chúa Trời ân xá qua sự Giáng sinh của Chúa Cứu Thế Jêsus và sự chết chuộc tội của Ngài cho chúng ta. Lễ Giáng sinh năm nay, chúng ta được biết mình đã được Đức Chúa Trời ân xá rồi, hãy vui mừng đến nhận lãnh lệnh ân xá, bằng cách tiếp nhận Đức Chúa Jêsus làm Chúa và làm Chủ cuộc đời mình để được xá miễn thoát khỏi vòng tội khiên hư mất. Đừng giống như George Wilson, cứng lòng không chịu nhận ân xá, để rồi phải bị diệt vong đời đời trong hỏa ngục, là nơi Đức Chúa Trời đoán phạt Satan và ma quỉ.
Lễ Giáng Sinh là lễ kỷ niệm ngày Đức Chúa Jêsus "Con người Đã Đến tìm và cứu kẻ bị mất". Chúa đang đi tìm quý vị. Hãy mạnh dạn chạy đến với Ngài nhận giấy ân xá tội lỗi ngay bây giờ, ngỏ hầu lễ giáng sinh năm nay quý vị tràn ngập niềm vui trong ân phúc cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Jêsus. &